Tiếng tày giao tiếp bộ tiếng tày giao tiếp cơ bản

Tiếng Tày là một ngôn ngữ thuộc nhómTày – Thái, có địa bàn phân bố từ Đảo Hải Nam sang miền nam Hoa lục, bắc Đông Dương, Thái Lan và đông bắc Miến Điện. Ở Việt Nam, tiếng Tày là ngôn ngữ của gần hai triệu người Tày, ngoài ra còn là ngôn ngữ giao tiếp chung của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trên các địa bàn Việt Bắc và Tây Bắc.

Tiếng Tày là ngôn ngữ có chữ viết cổ dựa trên cơ sở chữ Hán (chữ Nôm Tày). Hình thái văn tự này đã để lại cho ngày nay một kho tàng thư tịch cổ rất đồ sộ. Từ những năm đầu thế kỉ 20, nhất là từ những năm kháng chiến chống Pháp, cùng với sự phổ biến Chữ quốc ngữ, chữ viết tiếng Tày đã được latinh hoá bằng cách dùng Chữ quốc ngữ ghi âm tiếng Tày. Năm 1961, Chính phủ đã phê chuẩn Phương án chữ Tày – Nùng (Latinh hoá), loại chữ viết ghi âm dựa trên cơ sở chữ quốc ngữ.

Một số từ, câu tiếng tày giao tiếp cơ bản

Mí chắc = không biết
Có/chài = anh
Noọng = em
pi noong = anh em ,chị em, mọi người
bưa/ ngản = chán
pươi = nói
pây hâư = đi đâu
noọng pây đuối = em đi với
khẩu lam = cơm lam
mỳ = có
kin = ăn

* Mí chắc chài pươi ka lăng? Ngản !
=> Không biết anh nói cái gì? chán !

* Pì noọng pây hâư thuổn za? = anh em đâu hết rồi?

* Pì noọng pây hầư nhín mí xùa noọng pây đuối ?
= > anh em đi đâu chơi không rủ em đi với

* Chứ khẩu lam lai giá, hâng lai mí đảy kin khẩu lam
=> Nhớ cơm lam lắm rồi,lâu lắm không được ăn cơm lam

* Khăm nẩy mí nòn đảy ! => đêm nay không ngủ được

* Mí chắc phươi => Không biết nói

* Noọng mí chắc có nắt ca lăng? => em không biết anh thích cái gì?

* ử hở noọng nòn, nòn đắc nòn đi, nòn thả ý me mà!”
=> à ơi em ngủ, ngủ say đi, đợi tí mẹ về!

* Mu chê ma mỳ mắt, pất chê cáy mỳ lầy
=> “Lợn chê chó có bọ, vịt chê gà có mò”

* Điếp căn shíp vằn tàng cũng pây – Mí điếp căn lườn tẩư cằn lườn nưa cụng quây
=> “Thương nhau đi mười ngày đàng cũng gần – Không thương nhau nhà dưới cạnh nhà trên cũng xa”
Mỳ miầu mì nhả mí mỳ phon, mỳ phục mỳ phà mí mỳ cần nòn
=> Có trầu có vỏ không vôi, có chăn có chiếu không người nằm chung
Điếp noọng lai thương noọng lai, điếp noọng mí kin ngài kin piầu.
=> Yêu em nhiều, thương em nhiều, yêu em nên nỗi sớm chiều quên ăn

Bản = làng
Bản Chang = Làng Giữa
Bản Hua = Làng Đầu
Bản Lếch = Làng Sắt
Bản Pẻn = Làng Ván
Bản Lù = Làng Lỗ

Bó = mạch nước/ giếng
Bó Củng = Giếng Tôm

Chang = giữa
Chang Tôồng = Giữa Đồng

Cốc = Gốc
Cốc Hát = Gốc Thác
Cốc Nam = Gốc Gai

Cốp = Ếch
Cốp Ké = Ếch Già

Kéo = Đèo
Kéo Van = Đèo Ngọt

Khau = núi, rừng
Khau Bó = Núi Giếng
Khau Kheo = Núi, rừng Xanh
Khau Tàng = Núi, rừng Đường
Khuổi = suối
Khuổi Nậm = Suối Nước
Khuổi Slao = Suối Cô /gái

Lủng = lũng
Lủng Fầy = Lũng Lửa
Lủng Vài = Lũng Trâu

Nà = ruộng
Nà Áng = Ruộng Chậu
Nà Cưởm = Ruộng Trám trắng
Nà Đeng = Ruộng Đỏ
Nà Hang = Ruộng Đuôi
Nà Lẹng = Ruộng Cạn
Nà Mạ = Ruộng Ngựa
Nà Ngần = Ruộng Bạc
Nà Fấy = Ruộng Lửa
Nà Tềnh = Ruộng Trên

Pác = miệng
Pác Ca = Miệng Quạ

Pò = núi
Pò Chài = Núi Trai

Tà = sông
Tà Coóc = Sông Góc

Tềnh = trên
Tềnh Slung = Trên Cao
Kéo = Đèo

Khuân = lông

Lù = lỗ: Lù

Lủng = lũng

Nà = ruộng

Pác = miệng

Phai = ao

Pò = núi

Tổng = đồng

Hin Tốc = đá rơi

Tiếng Tày tuy là một ngôn ngữ tương đối phát triển, nhưng hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều phương ngữ khác nhau. Đầu những năm 70 của thế kỷ 20, Tổ Ngôn ngữ học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã chủ trì một đề tài nghiên cứu xác định vùng chuẩn của tiếng Tày – Nùng. Kết quả của đề tài nghiên cứu này đã chỉ ra một khu vực của tiếng Tày – Nùng có tính phổ biến nhất và được coi là vùng chuẩn của tiếng Tày – Nùng. Đó là hệ thống ngữ âm tiếng Tày – Nùng tồn tại ở địa bàn trong vùng tam giác Ba Bể – Hoà An – Đông Khê, Thất Khê. Hình thức phát âm này đã được Đài phát thanh Khu tự trị Việt Bắc cũ sử dụng trên làn sóng của mình và người Tày Nùng ở nhiều địa phương khác tiếp nhận không khó khăn.

Nguồn: Sưu tầm

Share this post

PinIt

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

scroll to top